6 CHIẾN DỊCH LỚN HÌNH THÀNH NÊN ĐẾ CHẾ MÔNG CỔ
6 CHIẾN DỊCH LỚN HÌNH THÀNH NÊN ĐẾ CHẾ MÔNG CỔ
Người Mông Cổ tạo ra một lãnh thổ liền mảnh lớn nhứt trong lịch sử. Từ xuất phát điểm khiêm tốn, một liên minh gồm các bộ lạc và tộc người đã được hình thành dưới sự lãnh đạo của Thiết Mộc Chân, tức Thành Cát Tư Hãn sau này. Đế chế này đã kết nối 2 thế giới Hoa - Hồi vốn trước đây gần như tách biệt, thúc đẩy giao lưu văn hóa và kinh tế. Tuy nhiên, các cuộc chinh phạt thường đi kèm với mức độ tàn bạo cực kỳ khủng khiếp. Dưới đây là 6 cuộc chinh phạt quan trọng nhứt của Đế chế Mông Cổ, dựa trên độ khó để đạt được chiến thắng cũng như tầm ảnh hưởng từ cuộc chinh phạt đó.
6. DIỆT SÁT THỦ
Năm 1256, Húc Liệt Ngột, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn và là em trai của Đại Hãn Mông Kha, đã chinh phục pháo đài Alamut. Pháo đài này nằm trên dãy núi phía Bắc Iran, là pháo đài lớn nhứt của phái Assassin. Với sự sụp đổ của các pháo đài, phái Assassin thất bại hoàn toàn, và thủ lãnh của chúng, được phương Tây gọi là "Sơn trung Lão nhân" bị bắt giữ và hành quyết.
Phái Assassin thực chất được tạo nên bởi một nhóm tín đồ Nizari Ismaili. Đây là một nhánh Hồi giáo Shi'a bị các tín đồ Shi'a khác, gồm luôn Hoàng tộc Caliph dòng Fatimid, lẫn những người hàng xóm dòng Sunni coi là dị giáo. Chúng từng đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử kể từ thời Thập Tự Chinh.
Mặc dù không phải là một lực lượng quân sự quy mô lớn, nhưng phái Assassin Nizari thường sử dụng thủ đoạn đe dọa và ám sát các thủ lãnh phe đối phương để củng cố vị thế. Điều này, kết hợp với hệ thống pháo đài hiểm trở cùng khả năng thu thuế trên các tuyến đường thương mại, đã khiến chúng trở thành một lực lượng đáng gờm lẫn bị thù ghét trong vùng.
Sau sự sụp đổ của Đế chế Hoa Lạt Tử Mô, quyền lực của người Mông Cổ vươn tới Trung Á và thế giới Hồi giáo. Dưới thời Đệ tứ Đại Hãn là Mông Kha Hãn, cuộc mở rộng của người Mông Cổ được tiếp tục và người em trai Húc Liệt Ngột được phái về phía Tây. Phái Assassin là kẻ thù lớn đầu tiên mà ông phải đối mặt. Việc để lại một lực lượng tiềm tàng và thù địch phía sau lưng khiến kế hoạch tiến sâu hơn vào khu vực trở nên bất khả thi; cùng với việc phái Assassin từ chối hàng Mông Cổ đồng nghĩa với việc chúng buộc phải bị xóa sổ. Mối đe dọa từ việc các tướng lãnh Mông Cổ có thể trở thành mục tiêu ám sát càng tạo thêm động lực cho Húc Liệt Ngột.
Cuộc chinh phạt vô cùng gian khó, đòi hỏi người Mông Cổ phải đưa máy bắn đá và thiết bị công thành lên vùng núi cao, liên tục bắn phá vào các pháo đài từ đỉnh núi lân cận. Các bức tường thành được bảo vệ kiên cố, như sử gia Ba Tư cùng thời là Ata-Malik Juvayni đã nhấn mạnh sự kháng cự dữ dội từ phái Assassin Nizari. Đây là kiểu chinh phạt mà người Mông Cổ không thể thực hiện được trong giai đoạn mở rộng đầu tiên của họ. Chiến tranh được quyết định bởi vũ khí công thành, còn kỵ binh hầu như không đóng vai trò gì. Khả năng thích ứng với chiến tranh trong các điều kiện khác nhau của người Mông Cổ chính là một trong các ưu thế quan trọng nhứt của họ.
Cuộc chinh phạt này xếp sau các chiến dịch tiếp theo về tầm ảnh hưởng. Mặc dù phái Assassin rất đáng sợ, đặc biệt là khi cố thủ trên căn cứ, nhưng chúng không phải là một nhà nước có quy mô hay tầm ảnh hưởng lớn như các đối thủ khác của người Mông Cổ. Dù vậy, người Mông Cổ đã xóa sổ một lực lượng từng đe dọa và thách thức các lãnh đạo lừng danh như Saladin trong hàng trăm năm.
5. PHẠT TÂY HẠ
Các cuộc chinh phạt đầu tiên của người Mông Cổ vươn ra ngoài cõi thảo nguyên là một trang sử bí ẩn. Vương quốc nói tiếng Tangut ở khu vực Tây Bắc Trung Hoa ngày nay đã 2 lần gục ngã trước quân đội của Thành Cát Tư Hãn.
Từ năm 1205 tới năm 1210, người Mông Cổ liên tục đột kích lãnh thổ Tây Hạ, tàn phá ruộng đồng và sát hại dân thường. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, họ chưa thể chiếm được các thành lớn có lớp phòng thủ kiên cố. Đội quân Mông Cổ lúc bấy giờ vẫn thuần túy là kỵ binh, chưa có vũ khí công thành hay lực lượng bộ binh đông đảo.
Tây Hạ cầu viện nhà Kim hỗ trợ nhưng bị từ chối. Do đó, Tây Hạ quyết định rằng trở thành chư hầu của Mông Cổ là lối thoát duy nhứt khỏi khủng hoảng. Tây Hạ phải nộp cống phẩm và dâng một công chúa để liên hôn với Thành Cát Tư Hãn. Quan trọng hơn, họ còn cung cấp cho người Mông Cổ binh lính và trang thiết bị công thành.
Người Mông Cổ học hỏi rất tốt từ các chư hầu Tây Hạ và dùng chính bài học đó để quay lại tiêu diệt Tây Hạ. Từ năm 1225 tới năm 1227, Tây Hạ hoàn toàn bị người Mông Cổ hủy diệt, phần lớn văn hóa của người Tây Hạ bị xóa sổ khỏi ghi chép lịch sử. Văn hóa Tây Hạ dường như gắn liền với văn hóa truyền thống Trung Hoa dù không thuộc về, đồng thời sở hữu ngôn ngữ và truyền thống riêng.
Ta không biết rõ lý do tại sao họ lại nổi dậy chống lại sự cai trị của người Mông Cổ. Có lẽ khi Thành Cát Tư Hãn đi tới những năm tháng cuối đời, họ đã thấy cơ hội để khôi phục nền độc lập. Dù điều gì kích động quyết định thách thức quyền bá chủ của Mông Cổ, thì hậu quả mang lại đều vô cùng thảm khốc.
Cuộc chinh phạt đầu tiên mang ý nghĩa lịch sử lớn hơn cuộc chinh phạt thứ 2. Một số ưu thế lớn của người Mông Cổ, gồm khả năng băng qua Sa mạc Gobi để đánh bọc hậu đối phương, cũng như khả năng chọc thủng phòng tuyến biên giới bằng sức mạnh và mưu kế, thể hiện rất rõ trong cuộc chiến này. Quan trọng hơn, họ rèn luyện được các kỹ năng cần thiết để tiếp tục mở rộng ở các khu vực khác.
4. TÁCH HÃN QUỐC
Các cuộc chinh phạt Châu Âu của người Mông Cổ diễn ra theo 2 giai đoạn. Đại Đột Kích (từ năm 1221 tới năm 1223) đại diện cho chiến dịch dài hơi nhứt (tính theo khoảng cách) mà người Mông Cổ từng thực hiện, di chuyển từ Iran cho tới tận Ukraine. Phần lớn các cuộc giao tranh diễn ra với các nhóm bộ tộc ở Tây Thảo nguyên, như người Kipchak. Tuy nhiên, Đại Công quốc Kyiv Rus, đồng minh của người Kipchak, cũng bị cuốn vào vòng chiến sự.
Quân Mông Cổ, dưới sự chỉ huy của 2 tướng lãnh lừng lẫy nhứt là Triết Biệt và Tốc Bất Đài, đã đánh bại lực lượng của người Kipchak và quân Rus tại Sông Kalka vào năm 1223. Người Mông Cổ không thừa thắng xông lên để củng cố quyền kiểm soát vùng lãnh thổ rộng lớn mới này. Điều này một phần do việc thừa kế ngai vàng. Tuy nhiên, chiến dịch này dường như cũng đóng vai trò trinh sát quan trọng, giúp người Mông Cổ mở rộng hiểu biết về toàn bộ quy mô của đại lục Á-Âu.
Phải tới sự lãnh đạo của Bạt Đô, con trai của Truật Xích, với Tốc Bất Đài một lần nữa hỗ trợ chỉ huy, người Mông Cổ mới mở rộng và nắm giữ phần lớn vùng lãnh thổ phía Tây. Các đạo quân Mông Cổ tiếp theo mở rộng theo tuyến đường tương tự Đại Đột Kích, lần này tiến xa tới tận Hungary. Họ dành được nhiều chiến thắng trước Ba Lan và Hiệp sĩ Teuton tại Trận Legnica, cũng như đánh bại Vương quốc Hungary tại Trận Mohi, đều vào năm 1241.
Nếu không vì cái chết của Đệ Nhị Đại Hãn là Oa Khoát Đài Hãn, rất có thể người Mông Cổ vẫn tiếp tục kiểm soát Châu Âu. Tuy nhiên, dù lực lượng Mông Cổ không tiến vào Trung Âu thêm lần nào nữa, thì Kim Trướng Hãn Quốc vẫn thống trị Tây Thảo nguyên trong hơn 200 năm tiếp theo, đồng thời biến các Đại Công xứ Kyiv Rus thành chư hầu.
Thách thức lớn nhứt của các chiến dịch này là khoảng cách địa lý khổng lồ. Trong thời kỳ tiền Hiện Đại (hoặc thậm chí sau đó), việc duy trì lực lượng, nhu yếu phẩm, hậu cần, kiến thức địa lý và sắp xếp tổ chức trên hàng ngàn dặm là một thử thách phi thường. Khả năng tác chiến hầu như không cần tuyến cung ứng, tốc độ di chuyển vô địch và khả năng liên lạc ở khoảng cách xa đã cho phép người Mông Cổ hoàn thành xuất sắc nhiều chiến dịch mà hiếm có đội quân nào khác dám thử sức.
Sự ra đời của Kim Trướng Hãn Quốc cũng tạo ra tác động sâu sắc tới Đế chế Mông Cổ và xa hơn nữa. Bạt Đô đã tận dụng vai trò thủ lãnh ở phía Tây để trở thành "dưới 1 người trên vạn người" sau cái chết của Quý Do năm 1248. Trong giai đoạn sau, khi chi họ của Đà Lôi lên nắm quyền, Bạt Đô lấy sự ủng hộ của mình để để đổi lấy vị thế độc lập trên lãnh thổ riêng.
Vượt ra ngoài giai đoạn chinh phục và mở rộng ban đầu, việc Kim Trướng Hãn Quốc cải đạo sang Hồi giáo, các cuộc chiến với các Hãn quốc Phía Tây khác, và sự trỗi dậy quyền lực của các Đại Công xứ Moskva đều có thể xem là hệ quả từ cuộc mở rộng quy mô này của người Mông Cổ.
3. PHỤC HOA LẠT
Sau khi thống nhứt Đông Thảo nguyên, chinh phạt và chi phối Tây Hạ, cùng các chiến dịch chống nhà Kim ở Bắc Tống quốc, người Mông Cổ đã tạo ra một đế chế rộng lớn. Tuy nhiên, thế giới Hồi giáo và Trung phần Thảo nguyên vẫn chưa bị ảnh hưởng quá trực tiếp bởi thế lực mới này, mặc dù đã có nhiều tín đồ Hồi giáo sống dưới sự cai trị của Mông Cổ.
Ban đầu, người Mông Cổ dường như mở rộng về phía Tây để truy kích các kẻ thù bị đánh bại từ các chiến dịch. Các thủ lãnh thất thế này chạy trốn sang phía Tây, gia nhập một liên minh có tên là Tây Liêu.
Việc mở rộng hơn nữa về phía Tây đã tới việc tiếp xúc với một vương quốc lớn hơn và lâu đời hơn: Đế chế Hoa Lạt Tử Mô (Khwarazm). Hoa Lạt Tử Mô là một nhà nước Hồi giáo, phát triển quanh các khu đô thị thương mại trên Ti lộ như Samarkand, Bukhara và Merv. Nhà nước này hòa quyện truyền thống Hồi giáo với văn hóa Ba Tư, và phần lớn sức mạnh quân sự dựa vào các chiến binh người Đột Quyết. Đế chế này rộng lớn, giàu có và trỗi dậy trở thành một trong các thế lực Hồi giáo quan trọng nhứt.
Xung đột bắt đầu từ một sai lầm thảm hại của Đế chế Hoa Lạt Tử Mô. Các thương gia Mông Cổ được sai tới để thiết lập quan hệ với nhà nước này đã bị bắt giữ và hành quyết vào năm 1218. Các sứ thần Mông Cổ được cử tới đòi bồi thường lại bị nhục mạ. Thành Cát Tư Hãn giận sôi gan và liền tuyên chiến.
Đế chế Hoa Lạt Tử Mô nằm cách trung tâm Mông Cổ 2000 dặm về phía Tây. Thế nhưng người Mông Cổ đã chứng tỏ sức mạnh áp đảo khi chiếm được Otrar, Bukhara, Samarkand và Merv vào năm 1220. Sự tàn bạo trong chiến thuật của người Mông Cổ, như việc đồ sát toàn bộ dân cư thành Merv, đã biến đây trở thành một trong các cuộc chinh phạt máu me nhứt. Tội ác còn trầm trọng hơn bởi sự phá hủy các hệ thống thủy lợi và dịch bệnh bùng phát ngay sau chiến dịch.
Cuộc chinh phạt này mang ý nghĩa to lớn chỉ riêng bởi quy mô tàn phá. Tuy nhiên, tác động lịch sử của nó còn vươn xa hơn thế. Chiến dịch này đã đưa phần lớn Trung Á, Afghanistan và Khorasan sát nhập vào lãnh thổ Mông Cổ. Các chiến binh nói tiếng Thổ trở thành lực lượng nòng cốt trong quân đội Mông Cổ sau này, và một thế hệ sau, các thành thị cùng hoạt động thương mại trên Ti lộ đã phục hồi, thậm chí còn phát triển mạnh hơn nhờ sự kết nối sâu sắc giữa 2 thế giới Hoa - Hồi.
Mối quan hệ giữa thế giới Hồi giáo và người Mông Cổ, phần lớn bắt đầu từ đây, tuy thường mang tính bạo lực, nhưng cuối cùng người Mông Cổ tại các vùng lãnh thổ này đã cải sang đạo Hồi. Đối với bản thân người Mông Cổ, chiến dịch này chứng tỏ khả năng vươn dài các chiến dịch quân sự ra xa khỏi quê hương và thậm chí vượt ra ngoài phạm vi Hoa Hạ.
2. BÌNH BA TƯ
Húc Liệt Ngột xuất hiện lần thứ 2 với cuộc chinh phạt Hoàng tộc Caliph Abbasid. Đỉnh điểm là sự kiện cướp phá thành Baghdad năm 1258, một trong các khoảnh khắc định hình lịch sử Hồi giáo.
Sau khi đánh bại phái Assassin, quân đội của Húc Liệt Ngột tiến vào vùng trung tâm của thế giới Hồi giáo. Các Caliph dòng Abbasid, trên lý thuyết, chính là lãnh đạo tối cao trong Hồi giáo. Tuy nhiên, hơn 500 năm sau khi trỗi dậy nắm quyền, quyền lực chánh trị của Caliph đã bị suy giảm đáng kể.
Mặc dù vậy, nhà Abbasid vẫn sở hữu nguồn lực to lớn, bao gồm các đạo quân đông đảo gồm chiến binh Thổ và các tộc người khác. Thủ phủ Baghdad là một trong các thành thị vĩ đại nhứt thế giới nên được phòng thủ rất kiên cố. Các Caliph cũng nắm giữ thẩm quyền tôn giáo quan trọng dù quyền lực chánh trị đã suy giảm, và họ hy vọng các thế lực khác trong thế giới Hồi giáo sẽ tập hợp lại để bảo vệ mình. Điều này có thể giải thích cho thái độ thách thức mà vị Caliph cuối cùng của nhà Abbasid, Al-Musta'sim, đã thể hiện khi được Húc Liệt Ngột yêu cầu thần phục. Khi yêu cầu bị từ chối, Húc Liệt Ngột đã hành quân tiến thẳng về thủ phủ của nhà Abbasid.
Đợt vây hãm chỉ kéo dài 13 ngày. Ngay khi tường thành sụp đổ, người Mông Cổ tràn vào và tàn phá thành Baghdad một cách man rợ. Hầu hết các ước tính đều cho rằng số vong mạng từ 10 vạn tới 20 vạn người. Đó cũng là một tổn thất to lớn về văn hóa và tri thức, với việc hủy diệt các thư viện lớn của nhà Abbasid, gồm Nhà Trí Tuệ nổi tiếng.
Vị Caliph cuối cùng bị dẫm đạp tới chết, một kết cục dành riêng cho những kẻ thù bị đánh bại có vị thế quan trọng. Nhà Abbasid là thế lực ngoại quốc dám thách thức người Mông Cổ và phải chịu một số phận nghiệt ngã để trả giá.
Chiến dịch này có lẽ ít thử thách hơn các chiến dịch xếp trên trong danh sách, nhưng tầm quan trọng từ sự sụp đổ của Triều đại Caliph Abbasid và thành Baghdad đã nâng nó lên vị trí cao hơn.
Về sau, một lực lượng nhỏ người Mông Cổ đã bị người Mamluk đánh bại tại Trận Ain Jalut năm 1260, và người Mông Cổ không thể giữ được Syria cũng như vùng Levant. Việc thiếu đồng cỏ và điều kiện thời tiết khắc nghiệt, cùng với sức mạnh quân sự hiệu quả của người Mamluk, đã hạn chế sự mở rộng của người Mông Cổ. Tuy nhiên, Y Nhi Hãn Quốc đã được thành lập tại Ba Tư và cuối cùng cũng cải sang đạo Hồi. Mối quan hệ thương mại giữa các Hãn quốc trung thành này với nhà Nguyên ở Trung Hoa trở thành nguồn giao lưu văn hóa và kinh tế then chốt trong các thập niên tiếp theo.
1. BẠI NAM TỐNG
Đất Hoa Hạ thực chất đại diện cho 2 cuộc chinh phục chứ không chỉ 1. Tuy nhiên, việc xem xét hợp nhứt chúng sẽ cho thấy tầm vóc của sự kiện, cũng như các thách thức về hậu cần và quân sự của chiến dịch.
Phần đầu của cuộc chinh phạt là sự sụp đổ của Bắc Tống, lúc này là lãnh thổ thuộc Đại Kim. Phần lớn cuộc chinh phạt được hoàn thành dưới thời Thành Cát Tư Hãn, và sự sụp đổ cuối cùng của Đại Kim được hoàn tất dưới thời con trai ông là Oa Khoát Đài.
Nhà Kim là những kẻ ngoại tộc, một nhóm người thuộc tộc Nữ Chân tới từ vùng Mãn Châu đã chiếm phần lớn Đồng bằng Bắc Trung Bộ và lãnh thổ xung quanh từ những năm 1120. Người Nữ Chân đánh bại người Khiết Đan, tức là nhà Liêu, thu gom một dải Bắc Tống rộng lớn. Nhà Kim sở hữu lượng kỵ binh tinh nhuệ đông đảo, có khả năng chiến đấu theo phong cách tương tự người Mông Cổ. Tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa là người Mông Cổ có thể chiến đấu với kẻ thù theo phong cách mà họ đã quá quen thuộc.
Bằng cách nhắm vào quê hương Mãn Châu của nhà Kim và tách các chư hầu, gồm cả người Khiết Đan, khỏi họ, người Mông Cổ đã chứng tỏ mình là lực lượng quân sự hiệu quả hơn. Khi quân Mông Cổ chọc thủng phòng tuyến nhà Kim tại Dốc Dã Hồ Bách năm 1211 và bắt đầu sử dụng công nghệ công thành của nhà Tây Hạ, họ đã gây ra tổn thất nặng nề cho nhà Kim.
Thủ phủ Trung Đô của nhà Kim bị bao vây vào năm 1213, và sau khi thỏa thuận đầu hàng năm 1214 bị vô hiệu, thành thị này đã bị cướp phá vào năm 1215. Sự kháng cự của nhà Kim tiếp tục ở thành Khai Phong cho tới khi thành thị này thất thủ dưới thời Oa Khoát Đài Hãn năm 1233. Sự sụp đổ của nhà Kim khiến người Mông Cổ hầu như không còn đối thủ ở Bắc Tống và Đông Thảo nguyên.
Cuộc chinh phạt Hoa Hạ lần 2 còn gian nan hơn nhiều. Nhà Nam Tống là một nhà nước mang tính Trung Hoa cổ điển hơn nhà Kim hay nhà Liêu và đã nắm quyền từ năm 960. Họ cai trị phần lãnh thổ phía Nam và có lượng dân số lớn hơn đáng kể so với phía Bắc. Phía Nam có các thành thị đồ sộ, quân đội đông đảo và công nghệ, gồm cả vũ khí và hỏa khí. Dù vậy, người Mông Cổ trước đây cũng từng đánh bại nhiều kẻ thù hùng mạnh và chiếm được các thành thị lớn.
Điều làm cho chiến dịch này trở nên khó khăn tới vậy là bản chất xa lạ của điều kiện tự nhiên. Phần lớn miền Nam thiếu các đồng cỏ và vùng chăn thả rộng lớn mà người Mông Cổ cần để nuôi đàn gia súc. Địa hình nhiều sông nước, và các hệ thống sông ngòi lớn là một phần cốt lõi của đời sống lẫn hạ tầng. Do đó, chiến thuật di chuyển nhanh quen thuộc của người Mông Cổ phải thực hiện bằng tàu bè nhiều như trên lưng ngựa. Ngoài ra, bộ binh chứ không phải kỵ binh mới là lực lượng cần thiết để dành chiến thắng. Đây hoàn toàn không phải là lần duy nhất người Mông Cổ phải thay đổi phương thức tác chiến; tuy nhiên, đó là lần thử thách nhứt.
Cuộc xâm lược bắt đầu dưới thời Mông Kha từ năm 1251, tiến qua đất Vân Nam ngày nay, và tiếp tục cho tới khi ông qua đời vào năm 1259. Sau cuộc nội chiến giữa Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Ca, Hốt Tất Liệt đã khôi phục cuộc xâm lược vào năm 1267, và bằng cách sử dụng lực lượng bộ binh và thủy quân đông đảo, đã đẩy lùi nhà Nam Tống về đất Quảng Châu vào năm 1277 và cuối cùng đã đánh bại hoàn toàn nhà Nam Tống năm 1279.
Vượt lên trên sự phức tạp và thách thức của chiến dịch này, lý do nó đứng ở vị trí số 1 trong danh sách chính là tầm quan trọng của nó. Người Mông Cổ đã đạt được điều mà nhà Tống không thể làm được: tái thống nhứt Bắc - Nam đất Hoa Hạ thành một thực thể chánh trị duy nhứt, đó chính là thành lập Nguyên triều. Các lãnh thổ bổ sung như Vân Nam cũng được sáp nhập vào một bản đồ quy mô hơn trước đây, sau đó được nhà Minh và hậu thế thừa hưởng.
Thông qua 2 cuộc chinh phạt gian khổ và đầy thử thách, một dưới thời Thành Cát Tư Hãn và một dưới thời các cháu nội ông, người Mông Cổ đã tạo ra một trong các thành tựu vĩ đại và bền vững nhứt của mình.
Người Mông Cổ tạo ra một lãnh thổ liền mảnh lớn nhứt trong lịch sử. Từ xuất phát điểm khiêm tốn, một liên minh gồm các bộ lạc và tộc người đã được hình thành dưới sự lãnh đạo của Thiết Mộc Chân, tức Thành Cát Tư Hãn sau này. Đế chế này đã kết nối 2 thế giới Hoa - Hồi vốn trước đây gần như tách biệt, thúc đẩy giao lưu văn hóa và kinh tế. Tuy nhiên, các cuộc chinh phạt thường đi kèm với mức độ tàn bạo cực kỳ khủng khiếp. Dưới đây là 6 cuộc chinh phạt quan trọng nhứt của Đế chế Mông Cổ, dựa trên độ khó để đạt được chiến thắng cũng như tầm ảnh hưởng từ cuộc chinh phạt đó.
6. DIỆT SÁT THỦ
Năm 1256, Húc Liệt Ngột, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn và là em trai của Đại Hãn Mông Kha, đã chinh phục pháo đài Alamut. Pháo đài này nằm trên dãy núi phía Bắc Iran, là pháo đài lớn nhứt của phái Assassin. Với sự sụp đổ của các pháo đài, phái Assassin thất bại hoàn toàn, và thủ lãnh của chúng, được phương Tây gọi là "Sơn trung Lão nhân" bị bắt giữ và hành quyết.
Phái Assassin thực chất được tạo nên bởi một nhóm tín đồ Nizari Ismaili. Đây là một nhánh Hồi giáo Shi'a bị các tín đồ Shi'a khác, gồm luôn Hoàng tộc Caliph dòng Fatimid, lẫn những người hàng xóm dòng Sunni coi là dị giáo. Chúng từng đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử kể từ thời Thập Tự Chinh.
Mặc dù không phải là một lực lượng quân sự quy mô lớn, nhưng phái Assassin Nizari thường sử dụng thủ đoạn đe dọa và ám sát các thủ lãnh phe đối phương để củng cố vị thế. Điều này, kết hợp với hệ thống pháo đài hiểm trở cùng khả năng thu thuế trên các tuyến đường thương mại, đã khiến chúng trở thành một lực lượng đáng gờm lẫn bị thù ghét trong vùng.
Sau sự sụp đổ của Đế chế Hoa Lạt Tử Mô, quyền lực của người Mông Cổ vươn tới Trung Á và thế giới Hồi giáo. Dưới thời Đệ tứ Đại Hãn là Mông Kha Hãn, cuộc mở rộng của người Mông Cổ được tiếp tục và người em trai Húc Liệt Ngột được phái về phía Tây. Phái Assassin là kẻ thù lớn đầu tiên mà ông phải đối mặt. Việc để lại một lực lượng tiềm tàng và thù địch phía sau lưng khiến kế hoạch tiến sâu hơn vào khu vực trở nên bất khả thi; cùng với việc phái Assassin từ chối hàng Mông Cổ đồng nghĩa với việc chúng buộc phải bị xóa sổ. Mối đe dọa từ việc các tướng lãnh Mông Cổ có thể trở thành mục tiêu ám sát càng tạo thêm động lực cho Húc Liệt Ngột.
Cuộc chinh phạt vô cùng gian khó, đòi hỏi người Mông Cổ phải đưa máy bắn đá và thiết bị công thành lên vùng núi cao, liên tục bắn phá vào các pháo đài từ đỉnh núi lân cận. Các bức tường thành được bảo vệ kiên cố, như sử gia Ba Tư cùng thời là Ata-Malik Juvayni đã nhấn mạnh sự kháng cự dữ dội từ phái Assassin Nizari. Đây là kiểu chinh phạt mà người Mông Cổ không thể thực hiện được trong giai đoạn mở rộng đầu tiên của họ. Chiến tranh được quyết định bởi vũ khí công thành, còn kỵ binh hầu như không đóng vai trò gì. Khả năng thích ứng với chiến tranh trong các điều kiện khác nhau của người Mông Cổ chính là một trong các ưu thế quan trọng nhứt của họ.
Cuộc chinh phạt này xếp sau các chiến dịch tiếp theo về tầm ảnh hưởng. Mặc dù phái Assassin rất đáng sợ, đặc biệt là khi cố thủ trên căn cứ, nhưng chúng không phải là một nhà nước có quy mô hay tầm ảnh hưởng lớn như các đối thủ khác của người Mông Cổ. Dù vậy, người Mông Cổ đã xóa sổ một lực lượng từng đe dọa và thách thức các lãnh đạo lừng danh như Saladin trong hàng trăm năm.
5. PHẠT TÂY HẠ
Các cuộc chinh phạt đầu tiên của người Mông Cổ vươn ra ngoài cõi thảo nguyên là một trang sử bí ẩn. Vương quốc nói tiếng Tangut ở khu vực Tây Bắc Trung Hoa ngày nay đã 2 lần gục ngã trước quân đội của Thành Cát Tư Hãn.
Từ năm 1205 tới năm 1210, người Mông Cổ liên tục đột kích lãnh thổ Tây Hạ, tàn phá ruộng đồng và sát hại dân thường. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, họ chưa thể chiếm được các thành lớn có lớp phòng thủ kiên cố. Đội quân Mông Cổ lúc bấy giờ vẫn thuần túy là kỵ binh, chưa có vũ khí công thành hay lực lượng bộ binh đông đảo.
Tây Hạ cầu viện nhà Kim hỗ trợ nhưng bị từ chối. Do đó, Tây Hạ quyết định rằng trở thành chư hầu của Mông Cổ là lối thoát duy nhứt khỏi khủng hoảng. Tây Hạ phải nộp cống phẩm và dâng một công chúa để liên hôn với Thành Cát Tư Hãn. Quan trọng hơn, họ còn cung cấp cho người Mông Cổ binh lính và trang thiết bị công thành.
Người Mông Cổ học hỏi rất tốt từ các chư hầu Tây Hạ và dùng chính bài học đó để quay lại tiêu diệt Tây Hạ. Từ năm 1225 tới năm 1227, Tây Hạ hoàn toàn bị người Mông Cổ hủy diệt, phần lớn văn hóa của người Tây Hạ bị xóa sổ khỏi ghi chép lịch sử. Văn hóa Tây Hạ dường như gắn liền với văn hóa truyền thống Trung Hoa dù không thuộc về, đồng thời sở hữu ngôn ngữ và truyền thống riêng.
Ta không biết rõ lý do tại sao họ lại nổi dậy chống lại sự cai trị của người Mông Cổ. Có lẽ khi Thành Cát Tư Hãn đi tới những năm tháng cuối đời, họ đã thấy cơ hội để khôi phục nền độc lập. Dù điều gì kích động quyết định thách thức quyền bá chủ của Mông Cổ, thì hậu quả mang lại đều vô cùng thảm khốc.
Cuộc chinh phạt đầu tiên mang ý nghĩa lịch sử lớn hơn cuộc chinh phạt thứ 2. Một số ưu thế lớn của người Mông Cổ, gồm khả năng băng qua Sa mạc Gobi để đánh bọc hậu đối phương, cũng như khả năng chọc thủng phòng tuyến biên giới bằng sức mạnh và mưu kế, thể hiện rất rõ trong cuộc chiến này. Quan trọng hơn, họ rèn luyện được các kỹ năng cần thiết để tiếp tục mở rộng ở các khu vực khác.
4. TÁCH HÃN QUỐC
Các cuộc chinh phạt Châu Âu của người Mông Cổ diễn ra theo 2 giai đoạn. Đại Đột Kích (từ năm 1221 tới năm 1223) đại diện cho chiến dịch dài hơi nhứt (tính theo khoảng cách) mà người Mông Cổ từng thực hiện, di chuyển từ Iran cho tới tận Ukraine. Phần lớn các cuộc giao tranh diễn ra với các nhóm bộ tộc ở Tây Thảo nguyên, như người Kipchak. Tuy nhiên, Đại Công quốc Kyiv Rus, đồng minh của người Kipchak, cũng bị cuốn vào vòng chiến sự.
Quân Mông Cổ, dưới sự chỉ huy của 2 tướng lãnh lừng lẫy nhứt là Triết Biệt và Tốc Bất Đài, đã đánh bại lực lượng của người Kipchak và quân Rus tại Sông Kalka vào năm 1223. Người Mông Cổ không thừa thắng xông lên để củng cố quyền kiểm soát vùng lãnh thổ rộng lớn mới này. Điều này một phần do việc thừa kế ngai vàng. Tuy nhiên, chiến dịch này dường như cũng đóng vai trò trinh sát quan trọng, giúp người Mông Cổ mở rộng hiểu biết về toàn bộ quy mô của đại lục Á-Âu.
Phải tới sự lãnh đạo của Bạt Đô, con trai của Truật Xích, với Tốc Bất Đài một lần nữa hỗ trợ chỉ huy, người Mông Cổ mới mở rộng và nắm giữ phần lớn vùng lãnh thổ phía Tây. Các đạo quân Mông Cổ tiếp theo mở rộng theo tuyến đường tương tự Đại Đột Kích, lần này tiến xa tới tận Hungary. Họ dành được nhiều chiến thắng trước Ba Lan và Hiệp sĩ Teuton tại Trận Legnica, cũng như đánh bại Vương quốc Hungary tại Trận Mohi, đều vào năm 1241.
Nếu không vì cái chết của Đệ Nhị Đại Hãn là Oa Khoát Đài Hãn, rất có thể người Mông Cổ vẫn tiếp tục kiểm soát Châu Âu. Tuy nhiên, dù lực lượng Mông Cổ không tiến vào Trung Âu thêm lần nào nữa, thì Kim Trướng Hãn Quốc vẫn thống trị Tây Thảo nguyên trong hơn 200 năm tiếp theo, đồng thời biến các Đại Công xứ Kyiv Rus thành chư hầu.
Thách thức lớn nhứt của các chiến dịch này là khoảng cách địa lý khổng lồ. Trong thời kỳ tiền Hiện Đại (hoặc thậm chí sau đó), việc duy trì lực lượng, nhu yếu phẩm, hậu cần, kiến thức địa lý và sắp xếp tổ chức trên hàng ngàn dặm là một thử thách phi thường. Khả năng tác chiến hầu như không cần tuyến cung ứng, tốc độ di chuyển vô địch và khả năng liên lạc ở khoảng cách xa đã cho phép người Mông Cổ hoàn thành xuất sắc nhiều chiến dịch mà hiếm có đội quân nào khác dám thử sức.
Sự ra đời của Kim Trướng Hãn Quốc cũng tạo ra tác động sâu sắc tới Đế chế Mông Cổ và xa hơn nữa. Bạt Đô đã tận dụng vai trò thủ lãnh ở phía Tây để trở thành "dưới 1 người trên vạn người" sau cái chết của Quý Do năm 1248. Trong giai đoạn sau, khi chi họ của Đà Lôi lên nắm quyền, Bạt Đô lấy sự ủng hộ của mình để để đổi lấy vị thế độc lập trên lãnh thổ riêng.
Vượt ra ngoài giai đoạn chinh phục và mở rộng ban đầu, việc Kim Trướng Hãn Quốc cải đạo sang Hồi giáo, các cuộc chiến với các Hãn quốc Phía Tây khác, và sự trỗi dậy quyền lực của các Đại Công xứ Moskva đều có thể xem là hệ quả từ cuộc mở rộng quy mô này của người Mông Cổ.
3. PHỤC HOA LẠT
Sau khi thống nhứt Đông Thảo nguyên, chinh phạt và chi phối Tây Hạ, cùng các chiến dịch chống nhà Kim ở Bắc Tống quốc, người Mông Cổ đã tạo ra một đế chế rộng lớn. Tuy nhiên, thế giới Hồi giáo và Trung phần Thảo nguyên vẫn chưa bị ảnh hưởng quá trực tiếp bởi thế lực mới này, mặc dù đã có nhiều tín đồ Hồi giáo sống dưới sự cai trị của Mông Cổ.
Ban đầu, người Mông Cổ dường như mở rộng về phía Tây để truy kích các kẻ thù bị đánh bại từ các chiến dịch. Các thủ lãnh thất thế này chạy trốn sang phía Tây, gia nhập một liên minh có tên là Tây Liêu.
Việc mở rộng hơn nữa về phía Tây đã tới việc tiếp xúc với một vương quốc lớn hơn và lâu đời hơn: Đế chế Hoa Lạt Tử Mô (Khwarazm). Hoa Lạt Tử Mô là một nhà nước Hồi giáo, phát triển quanh các khu đô thị thương mại trên Ti lộ như Samarkand, Bukhara và Merv. Nhà nước này hòa quyện truyền thống Hồi giáo với văn hóa Ba Tư, và phần lớn sức mạnh quân sự dựa vào các chiến binh người Đột Quyết. Đế chế này rộng lớn, giàu có và trỗi dậy trở thành một trong các thế lực Hồi giáo quan trọng nhứt.
Xung đột bắt đầu từ một sai lầm thảm hại của Đế chế Hoa Lạt Tử Mô. Các thương gia Mông Cổ được sai tới để thiết lập quan hệ với nhà nước này đã bị bắt giữ và hành quyết vào năm 1218. Các sứ thần Mông Cổ được cử tới đòi bồi thường lại bị nhục mạ. Thành Cát Tư Hãn giận sôi gan và liền tuyên chiến.
Đế chế Hoa Lạt Tử Mô nằm cách trung tâm Mông Cổ 2000 dặm về phía Tây. Thế nhưng người Mông Cổ đã chứng tỏ sức mạnh áp đảo khi chiếm được Otrar, Bukhara, Samarkand và Merv vào năm 1220. Sự tàn bạo trong chiến thuật của người Mông Cổ, như việc đồ sát toàn bộ dân cư thành Merv, đã biến đây trở thành một trong các cuộc chinh phạt máu me nhứt. Tội ác còn trầm trọng hơn bởi sự phá hủy các hệ thống thủy lợi và dịch bệnh bùng phát ngay sau chiến dịch.
Cuộc chinh phạt này mang ý nghĩa to lớn chỉ riêng bởi quy mô tàn phá. Tuy nhiên, tác động lịch sử của nó còn vươn xa hơn thế. Chiến dịch này đã đưa phần lớn Trung Á, Afghanistan và Khorasan sát nhập vào lãnh thổ Mông Cổ. Các chiến binh nói tiếng Thổ trở thành lực lượng nòng cốt trong quân đội Mông Cổ sau này, và một thế hệ sau, các thành thị cùng hoạt động thương mại trên Ti lộ đã phục hồi, thậm chí còn phát triển mạnh hơn nhờ sự kết nối sâu sắc giữa 2 thế giới Hoa - Hồi.
Mối quan hệ giữa thế giới Hồi giáo và người Mông Cổ, phần lớn bắt đầu từ đây, tuy thường mang tính bạo lực, nhưng cuối cùng người Mông Cổ tại các vùng lãnh thổ này đã cải sang đạo Hồi. Đối với bản thân người Mông Cổ, chiến dịch này chứng tỏ khả năng vươn dài các chiến dịch quân sự ra xa khỏi quê hương và thậm chí vượt ra ngoài phạm vi Hoa Hạ.
2. BÌNH BA TƯ
Húc Liệt Ngột xuất hiện lần thứ 2 với cuộc chinh phạt Hoàng tộc Caliph Abbasid. Đỉnh điểm là sự kiện cướp phá thành Baghdad năm 1258, một trong các khoảnh khắc định hình lịch sử Hồi giáo.
Sau khi đánh bại phái Assassin, quân đội của Húc Liệt Ngột tiến vào vùng trung tâm của thế giới Hồi giáo. Các Caliph dòng Abbasid, trên lý thuyết, chính là lãnh đạo tối cao trong Hồi giáo. Tuy nhiên, hơn 500 năm sau khi trỗi dậy nắm quyền, quyền lực chánh trị của Caliph đã bị suy giảm đáng kể.
Mặc dù vậy, nhà Abbasid vẫn sở hữu nguồn lực to lớn, bao gồm các đạo quân đông đảo gồm chiến binh Thổ và các tộc người khác. Thủ phủ Baghdad là một trong các thành thị vĩ đại nhứt thế giới nên được phòng thủ rất kiên cố. Các Caliph cũng nắm giữ thẩm quyền tôn giáo quan trọng dù quyền lực chánh trị đã suy giảm, và họ hy vọng các thế lực khác trong thế giới Hồi giáo sẽ tập hợp lại để bảo vệ mình. Điều này có thể giải thích cho thái độ thách thức mà vị Caliph cuối cùng của nhà Abbasid, Al-Musta'sim, đã thể hiện khi được Húc Liệt Ngột yêu cầu thần phục. Khi yêu cầu bị từ chối, Húc Liệt Ngột đã hành quân tiến thẳng về thủ phủ của nhà Abbasid.
Đợt vây hãm chỉ kéo dài 13 ngày. Ngay khi tường thành sụp đổ, người Mông Cổ tràn vào và tàn phá thành Baghdad một cách man rợ. Hầu hết các ước tính đều cho rằng số vong mạng từ 10 vạn tới 20 vạn người. Đó cũng là một tổn thất to lớn về văn hóa và tri thức, với việc hủy diệt các thư viện lớn của nhà Abbasid, gồm Nhà Trí Tuệ nổi tiếng.
Vị Caliph cuối cùng bị dẫm đạp tới chết, một kết cục dành riêng cho những kẻ thù bị đánh bại có vị thế quan trọng. Nhà Abbasid là thế lực ngoại quốc dám thách thức người Mông Cổ và phải chịu một số phận nghiệt ngã để trả giá.
Chiến dịch này có lẽ ít thử thách hơn các chiến dịch xếp trên trong danh sách, nhưng tầm quan trọng từ sự sụp đổ của Triều đại Caliph Abbasid và thành Baghdad đã nâng nó lên vị trí cao hơn.
Về sau, một lực lượng nhỏ người Mông Cổ đã bị người Mamluk đánh bại tại Trận Ain Jalut năm 1260, và người Mông Cổ không thể giữ được Syria cũng như vùng Levant. Việc thiếu đồng cỏ và điều kiện thời tiết khắc nghiệt, cùng với sức mạnh quân sự hiệu quả của người Mamluk, đã hạn chế sự mở rộng của người Mông Cổ. Tuy nhiên, Y Nhi Hãn Quốc đã được thành lập tại Ba Tư và cuối cùng cũng cải sang đạo Hồi. Mối quan hệ thương mại giữa các Hãn quốc trung thành này với nhà Nguyên ở Trung Hoa trở thành nguồn giao lưu văn hóa và kinh tế then chốt trong các thập niên tiếp theo.
1. BẠI NAM TỐNG
Đất Hoa Hạ thực chất đại diện cho 2 cuộc chinh phục chứ không chỉ 1. Tuy nhiên, việc xem xét hợp nhứt chúng sẽ cho thấy tầm vóc của sự kiện, cũng như các thách thức về hậu cần và quân sự của chiến dịch.
Phần đầu của cuộc chinh phạt là sự sụp đổ của Bắc Tống, lúc này là lãnh thổ thuộc Đại Kim. Phần lớn cuộc chinh phạt được hoàn thành dưới thời Thành Cát Tư Hãn, và sự sụp đổ cuối cùng của Đại Kim được hoàn tất dưới thời con trai ông là Oa Khoát Đài.
Nhà Kim là những kẻ ngoại tộc, một nhóm người thuộc tộc Nữ Chân tới từ vùng Mãn Châu đã chiếm phần lớn Đồng bằng Bắc Trung Bộ và lãnh thổ xung quanh từ những năm 1120. Người Nữ Chân đánh bại người Khiết Đan, tức là nhà Liêu, thu gom một dải Bắc Tống rộng lớn. Nhà Kim sở hữu lượng kỵ binh tinh nhuệ đông đảo, có khả năng chiến đấu theo phong cách tương tự người Mông Cổ. Tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa là người Mông Cổ có thể chiến đấu với kẻ thù theo phong cách mà họ đã quá quen thuộc.
Bằng cách nhắm vào quê hương Mãn Châu của nhà Kim và tách các chư hầu, gồm cả người Khiết Đan, khỏi họ, người Mông Cổ đã chứng tỏ mình là lực lượng quân sự hiệu quả hơn. Khi quân Mông Cổ chọc thủng phòng tuyến nhà Kim tại Dốc Dã Hồ Bách năm 1211 và bắt đầu sử dụng công nghệ công thành của nhà Tây Hạ, họ đã gây ra tổn thất nặng nề cho nhà Kim.
Thủ phủ Trung Đô của nhà Kim bị bao vây vào năm 1213, và sau khi thỏa thuận đầu hàng năm 1214 bị vô hiệu, thành thị này đã bị cướp phá vào năm 1215. Sự kháng cự của nhà Kim tiếp tục ở thành Khai Phong cho tới khi thành thị này thất thủ dưới thời Oa Khoát Đài Hãn năm 1233. Sự sụp đổ của nhà Kim khiến người Mông Cổ hầu như không còn đối thủ ở Bắc Tống và Đông Thảo nguyên.
Cuộc chinh phạt Hoa Hạ lần 2 còn gian nan hơn nhiều. Nhà Nam Tống là một nhà nước mang tính Trung Hoa cổ điển hơn nhà Kim hay nhà Liêu và đã nắm quyền từ năm 960. Họ cai trị phần lãnh thổ phía Nam và có lượng dân số lớn hơn đáng kể so với phía Bắc. Phía Nam có các thành thị đồ sộ, quân đội đông đảo và công nghệ, gồm cả vũ khí và hỏa khí. Dù vậy, người Mông Cổ trước đây cũng từng đánh bại nhiều kẻ thù hùng mạnh và chiếm được các thành thị lớn.
Điều làm cho chiến dịch này trở nên khó khăn tới vậy là bản chất xa lạ của điều kiện tự nhiên. Phần lớn miền Nam thiếu các đồng cỏ và vùng chăn thả rộng lớn mà người Mông Cổ cần để nuôi đàn gia súc. Địa hình nhiều sông nước, và các hệ thống sông ngòi lớn là một phần cốt lõi của đời sống lẫn hạ tầng. Do đó, chiến thuật di chuyển nhanh quen thuộc của người Mông Cổ phải thực hiện bằng tàu bè nhiều như trên lưng ngựa. Ngoài ra, bộ binh chứ không phải kỵ binh mới là lực lượng cần thiết để dành chiến thắng. Đây hoàn toàn không phải là lần duy nhất người Mông Cổ phải thay đổi phương thức tác chiến; tuy nhiên, đó là lần thử thách nhứt.
Cuộc xâm lược bắt đầu dưới thời Mông Kha từ năm 1251, tiến qua đất Vân Nam ngày nay, và tiếp tục cho tới khi ông qua đời vào năm 1259. Sau cuộc nội chiến giữa Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Ca, Hốt Tất Liệt đã khôi phục cuộc xâm lược vào năm 1267, và bằng cách sử dụng lực lượng bộ binh và thủy quân đông đảo, đã đẩy lùi nhà Nam Tống về đất Quảng Châu vào năm 1277 và cuối cùng đã đánh bại hoàn toàn nhà Nam Tống năm 1279.
Vượt lên trên sự phức tạp và thách thức của chiến dịch này, lý do nó đứng ở vị trí số 1 trong danh sách chính là tầm quan trọng của nó. Người Mông Cổ đã đạt được điều mà nhà Tống không thể làm được: tái thống nhứt Bắc - Nam đất Hoa Hạ thành một thực thể chánh trị duy nhứt, đó chính là thành lập Nguyên triều. Các lãnh thổ bổ sung như Vân Nam cũng được sáp nhập vào một bản đồ quy mô hơn trước đây, sau đó được nhà Minh và hậu thế thừa hưởng.
Thông qua 2 cuộc chinh phạt gian khổ và đầy thử thách, một dưới thời Thành Cát Tư Hãn và một dưới thời các cháu nội ông, người Mông Cổ đã tạo ra một trong các thành tựu vĩ đại và bền vững nhứt của mình.


Nhận xét
Đăng nhận xét